Trong
vài ngày qua, nhiều báo, trang tin đăng tải thông tin về việc “bỏ cấm kết hôn cùng giới”,
“người cùng giới được phép kết hôn”, “không cấm kết hôn cùng giới”… từ ngày
1/1/2015. Thông tin này khiến nhiều người vui mừng, hoặc một số thì nghi ngờ,
khó hiểu, đặc biệt là với cộng đồng người đồng tính. Viện nghiên cứu Xã hội,
Kinh tế và Môi trường (iSEE) xin cung cấp một số thông tin chính thức như sau về
quy định này để mọi người có cái nhìn đầy đủ hơn.

1.
Luật không còn cấm hôn nhân cùng
giới?
Đúng,
về lý thuyết là như vậy. Ngày 19/6/2014, Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Hôn
nhân và gia đình số 52/2014/QH13 (còn gọi là Luật HN&GĐ năm
2014), thay thế cho Luật HN&GĐ năm 2000. Trong đó, Khoản 5 Điều 10 của
Luật HN&GĐ năm 2000 quy định cấm kết hôn “giữa những người cùng giới
tính” đã bị bỏ ra khỏi Luật
HN&GĐ 2014. Đây là kết quả của quá trình vận động và thảo luận xã hội trong
suốt những vừa năm qua, dẫn đến việc các nhà làm luật đã nhìn nhận tích cực hơn
về quyền kết hôn, bình đẳng của người đồng tính và các cặp đôi cùng
giới.
2.
Nghĩa là tôi sẽ được kết hôn với người cùng giới?
Thực
tế là không. Mặc
dù đã bãi bỏ quy định cấm kết hôn cùng giới, nhưng Luật HN&GĐ 2014 cũng đồng
thời quy định tại Điều 8 về “Điều kiện kết
hôn” là “Nhà nước không thừa nhận
hôn nhân giữa những người cùng giới tính.” Mà nhiều người hay gọi tắt điều này là “bỏ cấm, nhưng không thừa
nhận.” Việc không thừa nhận này
đồng nghĩa với việc các cặp đôi cùng giới sẽ không thể đi đăng ký kết hôn, không
được cấp chứng nhận kết hôn, hay việc chung sống của họ sẽ không được pháp luật
thừa nhận, và không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ như vợ chồng giữa
họ.
3.
Nhưng “không cấm” có nghĩa là “được phép làm”?
Đúng
vậy,
theo nguyên tắc thì những gì nhà nước không cấm thì công dân được phép làm. Tuy
nhiên, với quy định như hiện tại thì quyền kết hôn cùng giới đang ở tình
trạng “vô thừa nhận,” hay nói
vui là một quyền “treo, chờ quy hoạch trong
tương lai.” Nói một cách khác, nếu
trước đây quyền kết hôn cùng giới là “không được làm,” thì
bây giờ là “không làm
được.”
4.
Vậy tôi có được phép làm đám cưới, tổ chức hôn lễ, hay chung sống với nhau như
vợ chồng không?
Được. Kết
hôn là việc xác lập quan hệ vợ chồng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Kết hôn
khác với việc làm đám cưới hay tổ chức hôn lễ. Luật HN&GĐ năm 2000 hay năm
2014 đều không coi những hình thức đám cưới, đám tiệc như những hành vi có giá
trị pháp lý và được thừa nhận. Vì vậy, các cặp đôi cùng giới hoàn toàn có quyền
thực hiện những nghi lễ hay chung sống với nhau. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền và
nghĩa vụ khi chung sống thì các cặp đôi cùng giới nên sử dụng các thỏa thuận dân
sự khác như ủy quyền, viết di chúc để tự trao cho nhau các quyền như việc kết
hôn làm phát sinh các quyền giữa các cặp khác
giới.
5.
Nhưng tại sao lại là ngày 1/1/2015?
Theo
quy định thì một văn bản pháp luật chỉ có hiệu lực sau ít nhất là 45 ngày kể từ
ngày được công bố hoặc ký ban hành, trừ trường hợp khẩn cấp. Quốc hội Việt Nam
thường họp hai kỳ vào tháng 5 và tháng 10, vì vậy thường những luật được thông
qua ở kỳ họp tháng 5 sẽ chờ đến 1/1 năm sau, và những luật được thông qua ở kỳ
họp tháng 10 thì sẽ chờ đến 1/7 năm sau để chính thức có hiệu lực. Luật
HN&GĐ 2014 được thông qua vào ngày 19/6/2014 và được quy định bắt đầu có
hiệu lực từ ngày
1/1/2015.
6.
Vậy cuối cùng thì có gì thay đổi với tôi không?
Về
mặt quyền thực tế, không có gì thay đổi. Tuy vậy về mặt tác động tới xã hội, hôn
nhân cùng giới không còn bị coi là hành vi bị ngăn cấm hay gây nguy hại cho xã
hội, và tiến tới sẽ cần được thừa nhận trong tương lai. Điều này thể hiện sự
thay đổi trong quan niệm của những nhà làm luật, và chắc chắn nó có tác động đến
quan điểm xã hội nói chung. Ít nhất, ở một lớp học giáo dục công dân nào đó,
giáo viên khi dạy bài về hôn nhân sẽ không còn phải nói rằng “hôn nhân cùng giới
bị pháp luật cấm” nữa, mà nó mở ra cho tất cả chúng ta hy vọng và động lực để
hướng tới những điều hoàn thiện hơn trong tương
lai.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét