Chủ đề về
người đồng tính nói riêng và LGBT nói chung còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Kiến thức
cơ bản về đồng tính vẫn chưa được giảng dạy chính thức, cũng như chương trình
giáo dục phổ thông hầu như không đề cập đến sự hiện diện của LGBT. Điều khó
tránh khỏi là còn rất nhiều những hiểu lầm và định kiến về người LGBT trong xã
hội, gây khó khăn cho quá trình mỗi cá nhân tìm hiểu và nhận diện xu hướng tính
dục hoặc bản dạng giới của bản thân. Chúng tôi đưa ra đây các nhận định sai lệch
thường thấy ở Việt Nam và nhiều nơi khác, kèm với lời giải thích dựa trên những
tài liệu khoa học đã được công nhận rộng rãi.

Người
đồng tính bị rối loạn tâm thần và hay trầm cảm? Năm
1994, Hội Y khoa Hoa Kì đưa ra tuyên bố, “Những khó khăn về cảm xúc của người
đồng tính nam và nữ không phải do nguyên nhân tâm lý mà chủ yếu xuất phát từ cảm
giác bị cô lập trong một môi trường xã hội không chấp nhận họ.” Khi cộng đồng
LGBT ngày càng cởi mở và tự tin hòa nhập trong xã hội, có thêm những người bạn
đồng minh, mỗi cá nhân người đồng tính lại có thêm điều kiện và sự hỗ trợ để
sống an toàn và hạnh phúc hơn.
Đồng
tính là một “lựa chọn”?Bản
thân xu hướng tính dục và bản
dạng giới không phải là những lựa chọn, cũng như chuyện một
người có xu hướng dị tính, hay thuận tay trái, hay có mắt màu nâu cũng chẳng
phải là “lựa chọn” gì của họ cả. Sự lựa chọn chỉ nằm ở việc một người có dám
khám phá bản thân, sống thật với chính mình và với những người quanh mình hay là
không.
Đồng
tính “chữa” được?Có một số
người đồng tính hay LGBT nói chung tự kỳ thị bản thân và đè nén tình cảm thật
của mình. Mặt khác, những cố gắng “chữa trị đồng tính” đều bị các tổ chức y tế
uy tín phủ nhận và đã được chứng minh là không có tác dụng, thậm chí tác động
tiêu cực làm người đồng tính trở nên trầm cảm, căng thẳng. Năm 2012, bác sĩ tâm
thần học nổi tiếng Robert Spitzer lên tiếng rút lại nghiên cứu của ông năm 2001
về hiệu quả “chữa trị” đồng tính thành dị tính và xin lỗi cộng đồng đồng tính.
Cùng với sự kiện này, chứng cứ khoa học duy nhất mà những người muốn “chữa trị
đồng tính” thường dựa vào, nay đã không còn
nữa.
Người
dị tính là người “bình thường”? Nhiều
người gọi người dị tính là “người bình thường”, vô hình trung tạo ấn tượng rằng
những người đồng tính sẽ là “bất bình thường”. Thực tế là, các xu hướng tính dục
tồn tại tự nhiên, bình thường và bình đẳng với nhau. Việc LGBT là nhóm thiểu số
và xã hội chưa hiểu biết đầy đủ về họ không có nghĩa là họ “bất bình thường” hơn
so với nhóm đa số (người dị
tính).

Các
mối quan hệ cùng giới dễ tan vỡ? Điều
khác biệt căn bản hiện nay giữa các cặp đôi khác giới với cặp đôi cùng giới là
các cặp cùng giới có thể chưa được pháp luật công nhận quyền kết hôn, chung sống
hợp pháp. Ngoài ra, các nghiên cứu chứng minh được rằng các cặp đôi đều có những
đặc điểm và khuynh hướng giao tiếp giống nhau, không phân biệt hai người đang
yêu là khác hay cùng giới với nhau. Cũng như người dị tính, mối quan hệ tình cảm
của người đồng tính cũng cần dựa trên các giá trị cơ bản về lòng tin, sự cam
kết, sự tôn trọng và tình yêu; và đều có hợp có tan.
Người
đồng tính hay bị bệnh AIDS? Đồng tính
không phải là nguyên nhân của bệnh AIDS. Người dị tính cũng có thể mắc AIDS.
Trong thực tế, mọi hành vi quan hệ tình dục không an toàn, dù là cùng giới hay
khác giới, đều nguy hiểm như
nhau.
Đồng
tính là trào lưu từ phương Tây? Các ngành
khoa học khác nhau cho đến nay đã ghi nhận sự hiện diện của người đồng tính nói
riêng và LGBT nói chung trong hầu như mọi nền văn minh cổ xưa nhất từ Đông sang
Tây. Chỉ có tùy theo thời kỳ và nền văn hóa thì cách gọi tên người LGBT mới khác
nhau, ví dụ như thuật ngữ tiếng Anh “homosexual” để chỉ người đồng tính phải đến
nửa cuối thế kỷ 19 mới xuất hiện lần đầu ở Đức, còn chuyên ngành về tính dục học
thì bắt đầu ra đời trong các Đại học ở Mỹ vào đầu thập kỷ 70 của thế kỷ 20.
Người đồng tính không “nhiều lên”, mà chỉ có nhiều người đồng tính hiểu biết hơn
về bản thân, dám công khai sống thật và thể hiện mình hơn
thôi.
Trung
tâm ICS
TỔNG
ĐÀI TƯ VẤN BỆNH ĐỒNG TÍNH: 1900 6233
VIỆN
TÂM LÝ VÀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét